Sức khỏe phụ nữ và trẻ em

Trẻ bị sởi phải làm sao? Dấu hiệu nhận biết và cách điều trị bệnh sởi

Trẻ bị sởi phải làm sao? Sởi là bệnh theo mùa, thường gặp ở trẻ nhỏ và là bệnh lành tính. Tuy nhiên, nếu không biết cách chăm sóc  đúng cách, trẻ có thể bị biến chứng dẫn đến tử vong. Những trẻ có nguy cơ mắc sởi cao là những trẻ có thể trạng yếu, sinh non, không được tiêm phòng vắc-xin phòng ngừa đầy đủ. Người lớn cũng có thể bị sởi nếu cơ thể không đủ miễn dịch với bệnh. Mời các bậc phụ huynh tham khảo tư vấn của các bác sĩ suckhoetongquat.com dưới đây để biết các dấu hiệu khi trẻ bị sởi và cách chăm sóc, điều trị bệnh sởi.

Bệnh biểu hiện bằng tình trạng viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp, đường tiêu hóa và phát ban đặc hiệu ngoài da.

Dấu hiệu, triệu chứng của bệnh sởi:

Triệu chứng của bệnh sởi

Các dấu hiệu đầu tiên của bệnh sởi thường xuất hiện trong vòng 4-10 ngày sau khi bạn bị nhiễm virus sởi. Các dấu hiệu này bao gồm:

– Các triệu chứng giống như cảm cúm: chảy nước mũi, nước mắt; mi mắt sưng phồng, hắt hơi sổ mũi, ho khan, họng đỏ.

– Mệt mỏi, mắt cộm đỏ, chảy nước mắt, nhạy cảm với ánh sáng;

– Biếng ăn, người hâm hấp sốt vài ngày rồi đột nhiên sốt hơi cao, tai lạnh hoặc ỉa lỏng, ngủ hay giật mình.

– Sốt cao, có thể lên tới 40 độ.

– Mệt mỏi, thiếu sức sống.

– Đau mỏi người.

– Nổi ban (hạt Koplik): các hạt nhỏ bằng hạt cát, màu trắng ngà/xám, quanh có viền đỏ, thường thấy xuất hiện nổi gồ lên trên bề mặt niêm mạc má (phía trong miệng, ngang răng hàm trên).

– Chán ăn.

– Sau vài ngày, các vết ban màu đỏ nâu sẽ xuất hiện

Trẻ mắc sởi nung bệnh trong 3 ngày, mọc sởi 3 ngày, sởi thường mọc từ sau tai, mặt, cổ, lan xuống các chi. Khi sởi mọc đến bụng thì bắt đầu bay từ trên đầu dần xuống… Sởi bay 3 ngày là hết nốt ban, để lại nốt thâm sau khi bay.

Vết ban của bệnh sởi

tre-bi-soi 2

Vết ban sẽ xuất hiện khoảng 2 đến 4 ngày sau khi có các triệu chứng đầu tiên và sẽ tồn tại trong vòng khoảng 1 tuần. Ban sởi là những ban dạng dát-sẩn màu hồng hơi nổi lên trên bề mặt da, sờ mịn như nhung và không đau, không hoặc ít ngứa, không sinh mủ.

Thông thường, các vết ban này sẽ xuất hiện ở quanh tai, sau đó lan ra đầu và cổ trước khi lan ra toàn bộ cơ thể trong vòng vài ngày tiếp theo. Khi ban lan đến chân thì cơn sốt cũng giảm nếu không có biến chứng.

Trong trường hợp nhẹ, ban mọc thưa thớt. Đối với những trường hợp nặng, ban mọc dày đặc cả lòng bàn tay, bàn chân.

Các vết ban thường có kích cỡ nhỏ khi mới xuất hiện nhưng sẽ nhanh chóng to lên, thậm chí là kết hợp thành ban lớn. Nếu bệnh đặc biệt nặng, ban có thể có dấu hiệu xuất huyết.

Người thân trong gia đình có thể nhầm lẫn vết ban của các bệnh khác thành ban sởi. Hãy lưu ý tới các triệu chứng được liệt kê trong mục trên.

Lưu ý: ban sởi là dạng ban xuất hiện có trình tự, từ quanh tai lan dần lên 2 bên má, cổ, ngực, bụng và phần chi trên trong vòng 24 giờ. Trong 24 gờ kế tiếp, ban lan xuống lưng, bụng, 2 tay và sau cùng là 2 chân trong từ ngày thứ hai đến ngày thứ ba của bệnh. Khi kết thúc nổi ban, ban sởi bay theo trình tự xuất hiện để lại vùng da bị ảnh hưởng những vết thâm đen trên bề mặt da. Các bệnh có phát ban khác thường phát ban không theo thứ tự.

Lúc ban sởi bay là lúc cơ thể nhạy cảm nhất và dễ gặp biến chứng nhất, nên cần tiếp tục duy trì chế độ ăn uống, vệ sinh, không chủ quan cho rằng ban đã bay là bệnh khỏi.

Các giai đoạn của bệnh sởi ở trẻ em

– Thời kỳ ủ bệnh chừng 10-12 ngày, có khi ngắn hơn (7 ngày), có khi dài hơn (20 ngày), thường không có biểu hiện gì. Trong một số trường hợp sau khi tiếp xúc với trẻ ốm, trẻ sốt nhẹ trong 5-6 ngày rồi khỏi, và 3-4 ngày sau mới sốt cao và chảy nước mắt nước mũi, hoặc đi tướt, trớ. Trẻ sơ sinh có thể bị xuống cân mặc dù trẻ vẫn bú bình thường.

– Tiếp đến là thời kỳ khởi phát, dài 4-5 ngày. Hai triệu chứng nổi bật là sốt và viêm long. Trẻ đột ngột sốt cao 39-39,5 độ C, vẻ mệt mỏi, kèm theo nhức đầu, đau cơ, khớp; chảy nước mũi, chảy nước mắt, mắt đỏ, ho nhiều, ho khan, có khi bị tiêu chảy.

– Sang ngày thứ hai, các triệu chứng trên nặng thêm. Trẻ ho nhiều, ho khan, đôi khi ho từng cơn, khàn giọng. Có khi bệnh bắt đầu bằng những cơn thở rít (do viêm thanh quản): trẻ chỉ hơi sổ mũi, ban đêm bỗng nổi cơn ho, vùng dậy mê hoảng tưởng như nghẹt thở, nhưng rồi cơn lui dần và trẻ lại nằm ngủ; có khi gần sáng lại lên cơn nữa và khi hết hẳn thì bắt đầu mọc sởi. Lúc này, khám miệng thấy trên nền đỏ thẫm của niêm mạc má có những chấm trắng nhỏ độ 1mm hơi nổi gợn lên (dấu hiệu Koplik). Có khi chỉ có 2-3 nốt ở phần niêm mạc má đối diện với răng hàm số 1. Các nốt này chỉ tồn tại 24-48 giờ và thường lặn hết sau khi sởi mọc 1 ngày.

– Thời kỳ mọc sởi (5-7 ngày)

tre-bi-soi-1

Các triệu chứng nặng hẳn lên, thân nhiệt tăng vọt, trẻ có thể sốt tới 40 độ C, ho liên tục, co giật, mê sảng… rồi đến đêm thì mọc sởi. Phần nhiều ban mọc ở sau tai, chân tóc rồi lan dần theo trình tự: mặt, cổ, lưng, bụng và chân tay.

Đến ngày thứ ba, ban mọc khắp người, ban mọc dầy nhất ở những nơi hay cọ xát hoặc phơi nắng. Có khi các nốt ban hợp với nhau thành từng vầng. Các nốt sởi hình tròn hoặc bầu dục, có màu đỏ hồng nhạt, sờ vào mịn như nhung, ấn vào biến mất, da xung quanh vẫn bình thường. Khi sởi mọc hết thì trẻ hết sốt và sởi bắt đầu bay. Ban sởi bay cũng theo trình tự như khi mọc, để lại các vết thâm và bong da nhỏ như rắc phấn nom vằn như da hổ. Các vết thâm kéo dài khoảng 1 tuần lễ mới hết. Có thể trẻ vẫn còn đau mắt, sổ mũi, quấy khóc, không chịu ăn.

– Thời kỳ hồi phục

Trẻ lại sức dần. Thường sau 1 tuần ban sởi bay hết và chỉ sau 2 tuần trẻ trở lại bình thường.

Trên đây là bệnh cảnh lâm sàng của các trường hợp sởi lành tính. Trong thực tế đôi khi gặp sởi ác tính: ban mọc ít, trẻ sốt cao, mê sảng, xuất huyết, đi tiểu ít… có thể dẫn đến tử vong; hoặc biến chứng do bội nhiễm vi khuẩn gây viêm tai giữa, viêm phế quản – phổi, viêm thanh quản (xảy ra sớm, trong những ngày đầu khi mới mọc sởi), viêm não, sơ nhiễm lao hoặc lao tiến triển, viêm cơ tim, viêm miệng hoại tử, khô loét giác mạc do thiếu vitamin A. Điều đáng quan tâm là sau sởi trẻ dễ bị suy dinh dưỡng nặng.

Biến chứng của bệnh sởi

Các biến chứng của bệnh sởi có thể đe dọa tới tính mạng của người bệnh. Các biến chứng này bao gồm nhiễm khuẩn ở phổi (viêm phổi) hoặc ở não (viêm não).

Những người dễ mắc biến chứng của bệnh sởi bao gồm:

– Trẻ dưới 12 tháng tuổi,

– Trẻ có sức khỏe kém,

– Trẻ có hệ miễn dịch suy giảm: trẻ mắc AIDS, trẻ đang chữa hóa trị liệu hoặc trẻ bị ung thư bạch cầu.

– Trẻ vị thành niên và người lớn.

Theo ước tính, cứ 1 trên 5.000 người mắc sởi sẽ tử vong do biến chứng.

Các biến chứng thường gặp

Các biến chứng thường gặp nhất của bệnh sởi bao gồm:

– Tiêu chảy.

– Nôn mửa.

– Nhiễm trùng tai, có thể gây đau tai.

– Nhiễm trùng mắt (viêm kết mạc).

– Viêm thanh quản.

– Viêm phổi, viêm phế quản và viêm thanh quản (do nhiễm trùng đường hô hấp và phổi).

– Sốt cao, co giật.

Các biến chứng hiếm gặp hơn

Các biến chứng hiếm gặp hơn của bệnh sởi bao gồm:

– Nhiễm trùng gan (viêm gan).

– Lác mắt (trong trường hợp virus tác động vào hệ thần kinh và hệ cơ của mắt.

– Viêm màng não (nhiễm trùng cơ xung quanh não và cột sống) hoặc viêm não (nhiễm trùng não).

Các biến chứng cực kì hiếm gặp

Trong một số rất ít các trường hợp, bệnh sởi có thể gây ra các biến chứng sau:

– Nhiễm trùng thần kinh thị giác (dây thần kinh truyền thông tin từ mắt lên não). Có thể gây mù mắt.

– Rối loạn tim và hệ thần kinh.

– Viêm não toàn bộ xơ hóa bán cấp (SSPE: Subacute Sclerosing PanEncephalitis): Có thể gây chết người. Tỉ lệ xảy ra là 1/25.000 trường hợp nhiễm sởi.

Biến chứng đối với phụ nữ mang thai

Nếu bạn chưa miễn dịch sởi và mắc sởi khi đang mang thai, bạn mắc nguy cơ:

– Sảy thai.

– Sinh thai chết.

– Sinh non (sinh trước khi thai được 37 tuần tuổi).

– Sinh con thiếu cân.

Nếu bạn đang mang thai, chưa được miễn dịch và lo ngại đã tiếp xúc với bệnh nhân sởi, hãy nhanh chóng liên hệ với các bác sĩ nhằm giảm nguy cơ mắc sởi.

Các dấu hiệu bệnh sởi nặng

Khi bạn hoặc trẻ nhỏ trong gia đình bị mắc bệnh sởi, hãy cẩn thận để ý tới các dấu hiệu biến chứng nguy hiểm trong quá trình hệ miễn dịch đào thải virus sởi:

– Thở hụt hơi.

– Đau, tức ngực dữ dội; đau nặng hơn khi thở.

– Ho ra máu.

– Chóng mặt.

– Co giật.

Các triệu chứng này là dấu hiệu của các trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Bạn cần phải nhanh chóng đưa người bệnh tới bệnh viện điều trị.

Cách điều trị cho trẻ bị bệnh sởi:

Bệnh sởi không có biện pháp điều trị chuyên biệt nào cả. Thông thường, hệ miễn dịch sẽ tự loại bỏ virus sởi trong vòng từ 7 đến 10 ngày. Điều trị sởi chủ yếu là điều trị triệu chứng, chăm sóc và phòng ngừa biến chứng. Với thể sởi lành tính, điều trị tại nhà. Cách ly trẻ tại phòng riêng ngay khi trẻ mới sốt và viêm họng; bảo đảm thoáng, sáng, tránh gió lùa; không cho tiếp xúc với những trẻ khác. Có thể cho trẻ ở trong phòng máy lạnh nhiệt độ khoảng 25 độ C, bật chế độ khô/hút ẩm để giảm độ ẩm không khí.

– Giữ vệ sinh sạch sẽ

Hàng ngày vệ sinh da dẻ, răng – miệng – mắt để tránh nhiễm khuẩn, lở loét da: rửa mặt, lau mắt, lau người bằng nước ấm; thường xuyên lau miệng bằng khăn sạch, mềm (nhúng nước đã đun sôi để nguội). Với trẻ lớn, cho súc miệng nước muối (pha loãng có độ mặn như nước mắt). Nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý hoặc thuốc nhỏ mắt mũi chuyên dùng khoảng 3, 4 lần/ngày.

Tắm, rửa chân tay cho người bệnh bằng nước đun sôi để nguội hoặc nước lá lành như: kinh giới, lá mùi, trà xanh… (lưu ý dùng nguồn nước sạch và rửa sạch các loại lá trước khi nấu nước tắm). Không được kiêng nước, kiêng tắm rửa bởi sẽ gây ngứa và gãi xước da dẫn tới nhiễm trùng.

Để tránh lây nhiễm cho mình và những người khác, đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh. Rửa tay kỹ bằng xà phòng diệt khuẩn sau khi tiếp xúc với người bệnh. Rửa tay trước khi chế biến thức ăn cho người bệnh.

Mặc quần áo rộng thoáng cho người bệnh. Giặt riêng quần áo của người bệnh, tốt nhất là giặt bằng nước nóng, phơi đồ nơi có nắng và thoáng gió. Nếu quần áo ẩm lâu khô thì nên dùng máy sấy và là ủi nóng để diệt khuẩn. Thay ga, gối, chăn sạch.

Vệ sinh môi trường: Tẩy trùng sàn nhà, đồ chơi trẻ em, dụng cụ, vật dụng của người bệnh (rửa bằng xà phòng diệt khuẩn hoặc dung dịch sát khuẩn Cloramin B).

– Điều trị cơn sốt và giảm đau

Uống paracetamol hoặc ibuprofen để giảm sốt, giảm đau và mỏi. Không được dùng aspirin để giảm sốt. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ nếu như bạn không thực sự chắc chắn nên dùng loại thuốc nào. Nên lau người bằng khăn ấm để giảm sốt. Không chườm đá hoặc khăn lạnh.

Xem thêm: Dùng thuốc hạ sốt đúng cách

– Ăn uống đúng cách

Cho ăn nhẹ, lỏng, dễ tiêu hoá, đủ chất (cháo thịt nạc, soup rau củ, canh các loại rau xanh mát nấu với thịt…). Với trẻ đang bú, tiếp tục và tăng cường cho bú mẹ để tăng đề kháng. Trẻ đang ăn bổ sung, ngoài sữa mẹ cần ưu tiên khẩu phần đủ chất dinh dưỡng nhất là những thực phẩm giàu protid và caroten.

Cho trẻ ăn nhiều rau chân vịt, cải trắng, cà rốt, củ cải, táo, lê,… sẽ cung cấp năng lượng cho trẻ, giúp trẻ nhanh chóng phục hồi sức khoẻ.

Không nên cho trẻ ăn các loại thức ăn chứa protein gây dị ứng như các loại thủy sản, cá rô, cá chép, cua, tôm càng, tôm nõn, cá diếc, sò, nghêu, các loại thịt dê, thịt chó, thịt gà, vịt, ngựa, lừa, các loại côn trùng như chấu chấu, kén nhộng, các loại rau kích thích như ớt, rau thơm, các thứ gia vị thơm cay như hoa hồi, bột hạt cải… Bổ sung protein cho trẻ bằng cách cho uống sữa đậu nành.

Cho uống thuốc giảm ho bằng thảo dược. Không cho uống các loại thuốc giảm ho, long đờm, chống sổ mũi của Tây y, vì ho và sổ mũi sẽ bảo vệ phổi cho bé, giúp bé không bị viêm phổi.

Cho trẻ uống nước ấm, đặc biệt là nước có chứa mật ong hoặc chanh để giúp thả lỏng đường hô hấp, giảm chất nhầy trong đường hô hấp hoặc giảm ho.

Nếu con của bạn bị sốt cao, hãy cho bé uống rất nhiều nước vì các bé đang gặp nguy cơ mất nước rất lớn. Cho trẻ uống nhiều nước cũng sẽ làm giảm sự khó chịu khi ho.

Không nên uống các loại nước kích thích, có ga.

Có thể uống sữa, uống nước cam, nước dừa, nước quả để cung cấp vitamin và tăng đề kháng, uống oresol để chống mất nước. Uống vitamin tổng hợp và vitamin C.

Tuyệt đối không cho bé tiếp xúc với khói thuốc lá, vì khói thuốc lá làm tăng nguy cơ biến chứng viêm tai giữa hay viêm phổi. Không ai được hút thuốc lá gần bé, nếu hút thuốc bên ngoài thì khi về nhà phải thay đồ, tắm rửa và súc miệng trước khi tiếp xúc bé, vì những chất độc của khói thuốc lá có thể vẫn còn trên người của người hút và bé có thể hít phải.

– Uống vitamin A

Tình trạng thiếu vitamin A gặp ở 90% bệnh nhi mắc sởi ở châu Phi và gặp ở 22-72% bệnh nhi mắc sởi ở Mỹ. Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ Vitamin A trong máu với mức độ nặng của sởi. Điều trị bằng Vitamin A đường uống đã được chứng minh làm giảm tỷ lệ tử vong cũng như biến chứng ở trẻ em mắc sởi tại các nước đang phát triển. Cụ thể, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo bổ sung vitamin A cho tất cả trẻ em được chẩn đoán với bệnh sởi với liều lượng theo độ tuổi như sau:

• Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng: 50.000 IU/ngày, dùng 2 liều cách nhau 24 giờ

• Tuổi 6-11 tháng: 100.000 IU/ngày, dùng 2 liều cách nhau 24 giờ

• Trẻ trên 1 tuổi: 200.000 IU ngày, dùng 2 liều cách nhau 24 giờ

• Trẻ em có dấu hiệu lâm sàng thiếu vitamin A: 2 liều đầu tiên theo tuổi, từ 2 đến 4 tuần sau đó bổ sung thêm liều thứ 3 theo tuổi

Cách này nhằm phục hồi nồng độ vitamin A thấp khi mắc sởi, xuất hiện ở cả những trẻ được chăm sóc dinh dưỡng tốt và có thể dự phòng tổn thương mắt và mù. Bổ sung vitamin A cho thấy giảm 50% số ca tử vong do sởi.

– Điều trị đau mắt

Kéo bớt rèm cửa để giúp giảm khó chịu khi tiếp xúc với ánh sáng (vẫn để mở cửa sổ để thoáng khí, không để phòng quá tối).

Bạn có thể dùng khăn bông sạch thấm nước muối sinh lý để lau rỉ mắt. Thay bông mỗi lần lau. Lau nhẹ mắt từ trong ra ngoài.

– Điều trị các triệu chứng giống như cảm cúm

Việc xông hơi có thể giúp người bệnh hồi phục từ các cơn ho. Hãy ngồi trước một bát nước nóng, đặt khăn ướt lên trên trán, nhắm mắt và hít thở sâu. Tránh để hơi nước bay vào mắt.

Trẻ em không nên xông hơi bởi các em có thể bị bỏng. Bù lại, bạn có thể để cho các em ngồi trong phòng tắm nóng, có nhiều hơi nước. Hoặc, bạn cũng có thể đặt khăn ấm lên máy sưởi dầu để không khí trong phòng có nhiều hơi nước hơn.

Uống nước ấm có pha chanh/mật ong/gừng/bạc hà, các thức uống có nhiều vitamin C. Súc miệng nước muối thường xuyên. Xịt rửa mũi bằng nước biển sâu. (Không uống thuốc chống sổ mũi).

– Không dùng thuốc kháng sinh cho trẻ bị sởi với mục đích dự phòng biến chứng vì dễ gây loạn khuẩn và dị ứng. Chỉ khi trẻ bị viêm tai giữa, viêm thanh – khí – phế quản, viêm phổi do bội nhiễm vi khuẩn mới cho dùng thuốc kháng sinh; và chỉ dùng khi có chỉ định của thầy thuốc.

– Không uống thuốc cầm tiêu chảy khi trẻ bị tiêu chảy do sởi. Chỉ cho bé uống bù nước bằng dung dịch Oresol hoặc nước dừa tươi, ăn cháo thịt nạc, soup rau củ. Cà rốt có thể trị tiêu chảy và bổ sung caroten, nên cho bé ăn tăng cà rốt.

– Chú ý theo dõi thân nhiệt hằng ngày, nhất là khi sởi bay có thể xảy ra biến chứng. Khi sởi bay mà trẻ vẫn sốt cần phải nghĩ đến biến chứng và đưa trẻ đi bệnh viện ngay

Chăm sóc trẻ bị sởi:

– Để trẻ nằm trong buồng thoáng khí, sáng, không nên kiêng khem quá mức, nên bỏ tập tục kiêng nước, kiêng gió. Vệ sinh răng miệng và thân thể cho trẻ.

– Nhỏ mũi, mắt cho trẻ bằng dung dịch nước muối sinh lý hoặc dung dịch nước nhỏ mắt mũi, ngày 3 -4lần.

– Nếu không có biến chứng thì không cần dùng kháng sinh chỉ dùng Vitamin B1, C liều cao. Trường hợp sốt cao trên 39độ C thì có thể cho hạ nhiệt bằng thuốc

– Trường hợp sởi có biến chứng (dấu hiệu trẻ vẫn sốt sau khi ban đã bay hết) phải đưa trẻ đến bệnh viện và điều trị kịp thời.

– Chế độ ăn trong những ngày trẻ sốt cao thì nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước quả.

– Khi trẻ bị tiêu chảy cho trẻ bú mẹ nhiều hơn, chú ý bù nước và điện giải cho trẻ để chống mất nước mất muối.
Phòng bệnh sởi cho trẻ:

Cách phòng bệnh tốt nhất là đưa trẻ từ 9 tháng tuổi đi tiêm phòng văcxin sởi đầy đủ. Phát hiện sớm giai đoạn viêm long để cách ly trẻ bệnh với trẻ thường.

Xem thêm: con đường lây truyền bệnh sởi và cách phòng tránh

Trẻ mắc bệnh sởi cần kiêng gì?

– Không nên cho bé kiêng nước lúc này vì da bé đang không khỏe mạnh nên càng cần được làm sạch để tránh viêm nhiễm. Do đó nếu để da bẩn, trẻ sẽ mệt mỏi thêm, dễ bị viêm da, thậm chí bội nhiễm, rất nguy hiểm. Các mẹ có thể tắm cho bé bằng cách dùng nước ấm rửa từng phần một, đầu tiên là mặt, cổ, sau đó đến tay, ngực – bụng, lưng, hai chân… Làm sạch xong phần nào, thấm khô và quấn khăn cho bé phần đó, rồi mới tiếp tục. Nên làm nhanh, nhẹ nhàng.

– Tránh để mắt trẻ tiếp xúc với ánh sáng: Trẻ bị lên sởi thường rất nhạy cảm với ánh sáng, nhất là khi mắt đang bị đau nhức và ra ghèn gỉ. Mẹ nên dùng kèo rèm cửa để chắn sáng và cho bé ở trong phòng với ánh sáng yếu những vẫn đảm bảo thông thoáng.

Chăm sóc để tránh biến chứng cho bé bị sởi

Virus sởi lan truyền do dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh theo không khí thoát ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi, nói chuyện. Thời điểm lây lan mạnh nhất là trước giai đoạn mọc những nốt ban.

Virus gây bệnh sởi có độc tố rất mạnh, nếu đúng sởi bao giờ cũng có hiện tượng ho, viêm long đường hô hấp, viêm kết mạc, sốt, nước mắt chảy kèm nhèm. Sau 2 – 3 ngày bắt đầu mọc các nốt theo trình tự từ ráy tai, nốt trên trán, mặt rồi bắt đầu lan xuống người, xuống chân tay. Nốt của sởi rất mịn, mềm mại sờ vào mịn như nhung, ấn vào biến mất, da xung quanh vẫn bình thường. Khi sởi mọc hết toàn thân thì trẻ hết sốt và sởi bắt đầu bay. Các vết thâm kéo dài khoảng 1 tuần lễ mới hết và trẻ trở lại bình thường.

Biến chứng nguy hiểm

Chăm sóc không đúng cách, sởi có thể gây những biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong. Sởi có thể gây tổn thương não nghiêm trọng, gây thân thần phân liệt, trầm cảm….

Đối với trẻ em, nhất là trẻ bị suy dinh dưỡng thì nguy cơ mắc sởi cao, nhưng nhưng rồi bệnh sởi lại là thủ phạm gây suy dinh dưỡng hoặc làm cho tình trạng suy dinh dưỡng nặng thêm. Trong thời gian bị sởi, trẻ thường kém ăn (nhất là những trẻ bị mọc nốt sởi trong họng), hơn nữa, nhiều trẻ lại bị ỉa chảy trong thời gian này nên tình trạng suy dinh dưỡng càng nặng hơn.

Ngoài ra, bệnh sởi còn gây biến chứng gây viêm đường đường tiêu hóa (trẻ thường bị đia ngoài sống phân, tiêu chảy); bị biến chứng viêm đường hô hấp trên như viêm họng, viêm tai giữa, viêm đường hô hấp dưới như viêm phổi…

Tránh biến chứng

Kiêng gió, kiêng bẩn, cách ly trẻ, cho trẻ ở phòng thoáng, sáng, tránh gió lùa. Lau người cho trẻ hàng ngày bằng khăn sạch, mềm. Thường xuyên rửa mặt, lau mồm cho bé, thay ga, đệm, quần áo để đảm bảo giữ vệ sinh cho trẻ.

Khi bé bị sởi thường lười ăn, cha mẹ nên nấu các loại cháo, sữa, thức ăn dễ tiêu, cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày. Hơn nữa, có nhiều trường hợp nốt sởi mọc ngay trong đường ruột, nếu cho trẻ ăn nhiều chất xơ, thức ăn cứng thì rất nguy hiểm, thậm chí gây chảy máu đường tiêu hóa. Nhất là cần đảm bảo cho trẻ uống đủ nước, nước hoa quả tươi.

Khi bé bị sốt cao, cha mẹ có thể hạ nhiệt bằng thuốc paracetamol theo cân nặng, nhưng nếu không hạ nhiệt được phải đưa đến bệnh viện để phòng biến chứng. Chú ý theo dõi thân nhiệt hằng ngày, nhất là khi sởi bay có thể xảy ra biến chứng. Thường trẻ chỉ bị sốt khoảng 3 ngày, sau đó hạ sốt, nốt sởi dần bay rồi mất hẳn, nhưng khi nốt sởi đã hết mà lại bùng lên sốt lại rất nguy hiểm, báo hiệu trẻ có thể đã bị nhiễm trùng, phổi, não, tai, cần phải đưa ngay trẻ đến bệnh viện.

Phòng bệnh sởi

Cách tốt nhất để phòng bệnh sởi là tiêm vaccine tổng hợp MMR (measles, mumps, rubella) dùng tránh sởi, quai bị và rubella.

Hiện nay có tình trạng nhiều phụ huynh không tiêm phòng sởi cho con, do có tin đồn về việc vaccine này gây ra bệnh tự kỷ ở trẻ em. Một số phụ huynh khác thì không tin tưởng vào chương trình tiêm chủng sau nhiều vụ việc trẻ em bị tử vong sau tiêm chủng thời gian gần đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chứng minh vaccine MMR không liên quan gì đến bệnh tự kỷ, và tự kỷ là một dạng tổn thương ở não từ khi người mẹ mang thai chứ không do tiêm vaccine. Các trường hợp tử vong nếu do tiêm vaccine cũng chỉ là cá biệt, nếu bỏ qua việc tiêm vaccine cho con là bạn đã đặt con mình trước những nguy cơ mắc các bệnh hiểm nghèo mà y học đã dày công nghiên cứu tìm cách chữa trị bằng vaccine. Khi cộng đồng có nhiều người không tiêm phòng, các dịch bệnh có thể bùng phát dữ dội trở lại.

Hiện có nhiều loại vaccine phòng sởi song chủ yếu chia làm 2 loại, gồm loại đơn và loại phối hợp. Vaccine phòng sởi đơn thường được tiêm mũi 1 khi trẻ được 9 tháng tuổi và mũi 2 nhắc lại khi trẻ 18 tháng tuổi.

Vaccine MMR là vaccine phối hợp. Mũi MMR đầu tiên thường được tiêm cho trẻ 13 tháng tuổi. Mũi MMR thứ 2 được tiêm vào trước thời điểm con của bạn bắt đầu đi học, tức là khi trẻ từ 3-5 tuổi.

Ngay cả trẻ em được tiêm vaccine trước khi đủ 12 tháng tuổi vẫn cần phải được tiêm 2 liều định kì vào thời điểm 13 tháng tuổi và trước khi đi học tiểu học.

Hãy liên hệ với bác sĩ hoặc kiểm tra lại sổ theo dõi tiêm chủng để biết rõ liệu con bạn đã được tiêm vaccine đầy đủ so với độ tuổi hay chưa.

Lưu ý từ bác sĩ Nguyễn Trí Đoàn (phòng khám Victoria Healthcare): vaccine sởi là vaccine sống giảm độc lực, có nghĩa là đó là virus sởi sống nhưng đã được làm yếu đi để không gây ra bệnh thực sự. Bé sơ sinh đã nhận kháng thể của mẹ truyền qua nhau thai, giúp bảo vệ bé đến khoảng 1 tuổi, nếu bé chích vaccine sởi trước 1 tuổi, kháng thể còn trong máu sẽ tiêu diệt 1 phần vaccine sởi đó nên cơ thể chỉ đáp ứng tạo kháng thể đối với phần vaccine còn lại thôi, có thể là chỉ còn 50% hay 60% vaccine chích vào. Hiện tượng này gọi là đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn. Vì vậy, nếu bé được chích mũi vaccine sởi trước 1 tuổi thì liều vaccine đó không được tính là 1 mũi chích đầu tiên, và từ 1 tuổi trở lên phải chích lại (thường chích mũi sởi – quai bị – rubella) và lúc đó mới tính là mũi chích đầu tiên (mũi 1). Nếu bé chích vaccine sởi đầu tiên vào lúc 1 tuổi trở lên thì đáp ứng miễn dịch được xem là hoàn toàn và lượng kháng thể tạo ra đủ sử dụng trong vài năm, do đó bé sẽ được chích nhắc lại 1 mũi vaccine sởi (hay sởi – quai bị – Rubella) (mũi 2) lúc 4-6 tuổi (không nhất thiết phải tiêm nhắc lại sớm hơn, tuy nhiên muốn tiêm nhắc sớm hơn cũng được, miễn là phải cách mũi vaccine sống tối thiểu 4 tuần lễ). Nếu chích liều đầu tiên sau 1 tuổi thì hiệu quả bảo vệ của vaccine sởi là hơn 97%.

Những người đã được tiêm ít nhất một mũi vaccine sởi thì nếu có mắc sởi cũng bị nhẹ hơn và giảm đáng kể biến chứng.

Người lớn và trẻ từ 6 – 13 tháng tuổi cũng có thể tiêm MMR nếu như họ gặp nguy cơ mắc sởi cao. Ví dụ, trong khu vực đang có dịch sởi bùng phát, hoặc trong trường hợp bạn đang chuẩn bị đi tới các vùng có tỉ lệ nhiễm sởi cao, hoặc trong trường hợp bạn đã tiếp xúc với người bị bệnh sởi, bác sĩ có thể sẽ khuyến cáo tiêm vaccine MMR.

Trong trường hợp bạn không rõ liệu con của mình đã được tiêm vaccine trong quá khứ hay chưa, việc tiêm vaccine thêm một lần nữa cũng sẽ không gây hại gì cả.

Cách phòng sởi cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 6 tháng tuổi

Ngay sau khi sinh con, cách tốt nhất để phòng bệnh và tăng đề kháng cho trẻ là cho trẻ tiếp xúc với cơ thể mẹ ngay và cho con bú càng nhiều càng tốt. Lưu ý là những ngày đầu sữa có thể chưa về nhưng trong vú mẹ đã có sữa non (colostrum) rất giàu kháng thể, sữa non đã được tích lũy trong vú mẹ từ tháng mang thai thứ năm, nên cho dù người mẹ cảm giác không có sữa nhưng thực tế bé vẫn bú được lượng sữa non quý giá này. Cho con bú mẹ hoàn toàn ít nhất trong ba ngày đầu để bé lấy toàn bộ lượng sữa non và sữa sau này sẽ nhiều, đủ cho bé bú. Đừng lo trẻ bị đói vì trong 3 ngày đầu trẻ vẫn được cung cấp dinh dưỡng từ cuống rốn. Tránh hết sức việc dùng sữa công thức cho trẻ dưới 6 tháng tuổi. Trẻ mới sinh có thể bị giảm cân nặng là bình thường, nhưng nếu người mẹ cho bé bú đúng cách thì mẹ sẽ cung cấp đủ sữa cho con bú và bé sẽ tăng cân tốt, đồng thời trẻ sẽ không bị bệnh trong 6 tháng đầu đời cũng như có đủ kháng thể để chống lại các căn bệnh khác khi lớn hơn.

Trẻ dưới 6 tháng tuổi không nên tiêm vaccine MMR. Nếu mẹ của đứa trẻ đã từng được miễn dịch, đứa trẻ sẽ có sẵn một lượng kháng thể đối với bệnh sởi do mẹ truyền lại vào thời điểm sinh con. Các kháng thể này có thể giúp bảo vệ trẻ sơ sinh trong vòng vài tháng sau khi sinh.

Nếu mẹ của trẻ chưa được miễn dịch trước khi mang thai, trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi có thể được tiêm globuline miễn dịch (HNIG) nếu như hệ miễn dịch của các em quá yếu. HNIG không phải là vaccine mà chỉ là một lượng kháng thể tập trung có thể giúp bảo vệ trẻ sơ sinh trong một thời gian ngắn. Sau khi tiêm HNIG, phải sau ít nhất 3 tháng mới được tiêm vaccine MMR.

Biện pháp tiêm vaccine cho mẹ và trẻ trên 6 tháng tuổi vẫn là biện pháp phòng ngừa cần thiết nhất.

Phòng sởi cho phụ nữ sắp/đang mang thai

Nếu sắp sửa mang thai và chưa miễn dịch sởi (chưa tiêm vaccine, chưa từng bị nhiễm sởi), bạn cần nhanh chóng tiêm vaccine MMR trước khi mang thai.

Phụ nữ đang mang thai không nên tiêm vaccine MMR. Do đó, nếu bạn có nguy cơ đã tiếp xúc với người bệnh sởi, bạn có thể sẽ được tiêm HNIG để giảm nguy cơ nhiễm sởi.

Tránh lây lan bệnh sởi

Khi bạn hoặc người trong gia đình bị mắc sởi, việc tránh lây bệnh cho người khác là tối quan trọng.

Bạn cần tránh đến trường học hoặc công ty trong vòng ít nhất 4 ngày sau khi xuất hiện các vết ban.

Bạn cần tránh tiếp xúc với những người có khả năng bị lây bệnh cao, ví dụ như trẻ nhỏ hoặc phụ nữ có thai.

Tránh tới những nơi đông người để đề phòng lây nhiễm từ cộng đồng.

Trong bối cảnh dịch sởi đang bùng phát như hiện nay, bạn không nên đưa con trẻ tới bệnh viện để tránh lây chéo khi trẻ chỉ bị các bệnh thông thường khác như viêm mũi họng, phế quản…, và khi cần thì tránh đưa trẻ tới các bệnh viện lớn nơi đang tập trung nhiều trẻ bị sởi.

Trường hợp trẻ có các dấu hiệu ban đầu và nhẹ của bệnh sởi, trước mắt hãy điều trị tại nhà như hướng dẫn ở trên, hoặc có thể đưa con tới các cơ sở y tế tại địa phương để kiểm tra. Chỉ trong trường hợp bệnh biến chứng nặng, bạn mới nên đưa người bệnh tới các bệnh viện để điều trị. Các dấu hiệu ban đầu của sởi khá giống với sốt phát ban, sốt xuất huyết, cảm cúm…, nếu quá nôn nóng đưa con tới bệnh viện trong thời gian này, con bạn dù không bị sởi cũng có thể bị lây sởi tại bệnh viện và có thể bị biến chứng nặng khi “ra gió” và mệt mỏi do di chuyển.

Bệnh viện Nhi Trung ương lúc này đang quá tải bệnh nhân sởi và cũng là nơi có nhiều trẻ tử vong nhất, bạn nên tránh đưa con tới bệnh viện này.

Các biện pháp dân gian như uống và tắm nước lá mùi, dùng các bài thuốc sắc dân gian tuy chưa được y học khẳng định về tính hiệu quả nhưng bạn cũng có thể tìm hiểu để áp dụng, song không nên quá lo lắng và nên rửa thật sạch các thảo dược trước khi dùng.

Trẻ bị sởi nên kiêng ăn gì?

Thực phẩm nên dùng khi trẻ bị sởi

Khi trẻ bị sởi, bạn nên dùng các thực phẩm như: củ năng, đậu hũ, cháo đậu đỏ, cháo đậu xanh, cháo cà rốt, bắp cải, cải bó xôi, mía lau, nấm hương, củ cải đường, hoa hiên (hoa kim châm), bí đỏ, bông cải xanh, bí đao, rau dền đỏ, dưa hấu, dưa chuột, lê, giấm gạo, cá chép, cá da trơn (cá ba sa, sa ba, cá bông lau), cá hồi, cá trích, thịt heo nạc, nho, trà xanh, rong biển, cà chua, cà rốt, chuối, táo, lê, đậu xanh, hạt sen, hạt mè, hạt ý dĩ…

Thực phẩm không nên dùng khi trẻ bị sởi

Trẻ em đang bị bệnh sởi thì không nên dùng các loại gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu, quế, hành tây, tỏi, cà ri, rau thì là… Những thực phẩm này có tác dụng trợ nhiệt, động huyết, gây ra những phản ứng bất lợi cho người bệnh.

Hạn chế các thức ăn chứa nhiều chất béo, thức ăn chiên xào nhiều dầu mỡ, thức ăn nướng, xông khói, nội tạng động vật, bánh kem, chocolate… Đây là những thức ăn rất dễ sinh đàm nhiệt, thấp nhiệt, động hỏa, cũng không có lợi cho người bệnh sởi.

Nếu trẻ bị dị ứng khi ăn các thức ăn (như trái cây sấy khô, các loại hải sản như cua, ốc, nghêu, sò, mực, cá biển, đậu phộng, chocolate, pho mát, sữa, trứng, phụ gia thực phẩm, các chất cay nóng, gây kích thích) thì nên tránh, không được dùng.

Với tình trạng dịch sởi đang diễn biến phức tạp như hiện nay, các chuyên gia y tế khuyến cáo, chỉ có biện pháp tiêm phòng mới có thể kiểm soát tốt được dịch sởi. Khi phát hiện trẻ có sốt phát ban, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được điều trị và cách ly kịp thời, tránh lây nhiễm cho cộng đồng.

Share on Facebook0Pin on Pinterest0Share on Google+0
Leave a Reply