Sức khỏe phụ nữ và trẻ em

Những biến chứng thai kỳ thường gặp mà các mẹ bầu cần lưu ý

Biến chứng khi mang thai là một trong những nguyên nhân khách quan dẫn đến nhiều cái chết của các sản phụ. Kể cả khi có một thai kỳ bình thường và khỏe mạnh, sản phụ vẫn có thể gặp các biến chứng khi sinh.

Thông thường, đa số bà bầu trải qua thai kì không gặp tai biến gì. Nhưng một số phụ nữ khác thì không may mắn như vậy. Biến chứng có thể xảy ra trong bất kì giai đoạn nào của thai kì và có ảnh hưởng nghiêm trọng ở các mức độ khác nhau đến sức khoẻ và cơ thể của thai phụ và thai nhi. Nếu được kiểm soát tốt, những nguy cơ này có thể giảm đi.

Suckhoetongquat.com sẽ giúp bạn liệt kê ra những biến chứng bằng danh sách sau đây, nhưng danh sách này cũng chưa hoàn toàn đầy đủ. Nếu bạn có điều gì lo lắng, bạn nên tìm sự tư vấn của các nữ hộ sinh hoặc bác sĩ của bạn.

Nếu bạn gặp phải biến chứng thai kì ở các lần trước, hoặc gia đình bạn có tiền sử biến chứng khi mang thai, v.v… thì bạn có sẽ có nguy cơ mắc phải biến chứng cao hơn.

Biến chứng thai kì giai đoạn sớm

Thai ngoài tử cung

Xem thêm: Dấu hiệu nhận biết thai ngoài tử cung

Biến chứng này xảy ra khi trứng thụ thai làm tổ ở ngoài tử cung. Khả năng xảy ra thường khoảng 1/200. Nếu đã từng bị thai ngoài tử cung trước đây hoặc từng phẫu thuật vòi trứng, xác suất này sẽ cao hơn. Đây là biến chứng bắt buộc phải can thiệp phẫu thuật để lấy phôi thai và nếu không phát hiện kịp thời có thể sẽ phải mổ cấp cứu nếu thai làm tổ ở vòi trứng gây bể vòi trứng.

Sẩy thai

Sẩy thai là biến chứng thai kì thường gặp nhất chiếm tần suất khoảng 15% thai kì giai đoạn sớm. Nguyên nhân sẩy thai thường do có sự gián đoạn trong quá trình phát triển nhiễm sắc thể của phôi ở giai đoạn rất sớm sau khi thụ thai, làm cho phôi thai không tương thích được với cuộc sống. Đa số phụ nữ đều có thể thụ thai lại và có một thai kì khoẻ mạnh sau lần sẩy thai trước đó. Bạn có thể tham khảo thêm website của nhóm SANDS là một nhóm hỗ trợ cho những người phụ nữ có tiền sử sẩy thai.

Nghén

Nghén là biến chứng thường gặp do buồn nôn và nôn. Nôn là triệu chứng rất thường gặp trong 3 tháng đầu thai kì, xảy ra với tần suất 1:200. Tình trạng này cũng thường gặp ở phụ nữ thừa cân hoặc béo phì, mẹ mang thai lần đầu, phụ nữ có mẹ khi mang thai cũng bị nghén hoặc những phụ nữ mang đa thai. Khi gặp tình trạng này, có thể điều trị bằng thuốc uống nhưng nếu nôn ói quá nhiều có thể dẫn đến mất nước, phải nhập viện và truyền dịch.

Biến chứng giữa thai kì

Hở eo cổ tử cung

Xảy ra khi cổ tử cung không thể đóng kín. Thay vì cổ tử cung phải đóng và được bít kín lại bằng một nút nhầy khá đặc thì cổ tử cung lại ngắn và dãn. Tình huống này có thể dẫn đến sẩy thai hoặc vỡ màng ối sớm. Một trong các cách xử trí là khâu lại cổ tử cung trong thai kì. Một vài tuần trước ngày dự sinh, phần chỉ khâu sẽ được gỡ bỏ.

Thiếu máu

Có thể gặp trong suốt thai kì do thiếu huyết sắc tố. Tình trạng tích nước ở bà bầu có thể làm máu bị pha loãng, khiến cho tỉ lệ huyết sắc tố trong máu bị giảm. Do huyết sắc tố giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển oxy đến thai nhi, các bà bầu nên làm xét nghiệm máu định kì để kiểm tra nồng độ huyết sắc tố. Có nhiều cách xử trí từ đơn giản nhất là bổ sung sắt trong thức ăn hoặc trực tiếp bằng cách uống viên sắt, cho đến phức tạp hơn là truyền máu.

Bất tương đồng nhóm máu ABO

Tình trạng này có thể xảy ra ở thai nhi có nhóm máu A, B hoặc AB trong khi mẹ mang nhóm O. Nguyên nhân là do hồng cầu của thai nhi khi đi vào vòng tuần hoàn của mẹ, cơ thể mẹ sẽ xem như là vật thể lạ xâm nhập nên tự tạo ra kháng thể tấn công hồng cầu của thai nhi. Điều trị thích hợp bằng liệu pháp ánh sáng cho bé bị vàng da khi sinh hoặc truyền máu nếu nặng hơn.

Nhau tiền đạo

Nhau tiền đạo xảy ra khi nhau thai nằm khá thấp trong tử cung, che chắn một phần hoặc hoàn toàn cổ tử cung, thường gây chảy máu và có thể cản trở lối ra của thai nhi khi sinh. Có thể phải sinh mổ tuỳ thuộc mức độ nhau tiền đạo.

Chậm tăng trưởng trong tử cung

Tần suất xảy ra khoảng 10% thai kì. Khả năng gặp cao hơn ở các trường hợp sinh con đầu lòng, hoặc mẹ lớn tuổi mang thai hoặc bà mẹ có hơn 4 con trước đó. Kích thước thai nhi được ước lượng khi thăm khám bụng bằng tay, nếu có nghi ngờ, bác sĩ hoặc nữ hộ sinh sẽ đề nghị thêm siêu âm cho bạn. Siêu âm sẽ giúp ước lượng chính xác kích thước thai nhi khi so sánh với tuổi thai và biểu đồ tăng trưởng bình thường.

Sinh non

Sinh non xuất hiện trong khoảng 7% trường hợp mang thai. Thường gặp hơn ở phụ nữ mang thai từng bị biến chứng, có tiền sử sinh non trước đó, hút thuốc lá, uống rượu, lạm dụng thuốc hoặc có bệnh răng miệng. Nếu việc sinh nở không thể trì hoãn được khi em bé chưa trưởng thành, bác sĩ có thể chỉ định dùng steroids để giúp phổi thai phát triển hơn. Bạn có thể tham khảo thêm thông tin ở website của National Premmie Foundation.

Biến chứng muộn trong thai kì

Huyết khối tĩnh mạch sâu

Xảy ra ở tĩnh mạch chân, thỉnh thoảng có thể xảy ra ở tĩnh mạch chậu trong thai kì. Huyết khối là một cục máu đông, thường thấy ở phụ nữ thừa cân, hút thuốc lá, có tiền sử gia đình bị huyết khối hoặc phụ nữ mang thai ít vận động. Cục huyết khối này có thể di chuyển đến các mạch máu lớn ở tim và phổi gây tắc nghẽn. Biến chứng này có thể điều trị bằng thuốc kháng đông máu.

Tăng huyết áp

Có thể xảy ra trong suốt thai kì và là một trong các triệu chứng của tiền sản giật. Thường gặp hơn ở mẹ sinh con đầu lòng và mẹ có tiền sử gia đình tăng huyết áp. Huyết áp tăng khi mang thai có thể ảnh hưởng tới lưu lượng máu tới nhau thai và làm giảm lượng oxy cho em bé. Điều này lý giải vì sao luôn phải kiểm tra huyết áp trong quá trình mang thai.

Rhesus

Khi mẹ mang nhóm máu Rh (-) có thai con lại mang nhóm máu Rh (+), cơ thể người mẹ sẽ sinh ra kháng thể tấn công hồng cầu thai nhi. Thường ít gặp ở lần mang thai đầu tiên nhưng có nguy cơ ở lần mang thai tiếp theo. Điều trị bằng cách tiêm Anti-D thường xuyên cho phụ nữ có Rh (-) sau khi sinh hoặc trong thai kì nếu cần thiết.

Đa ối(nhiều nước ối) – Thiểu ối(thiếu nước ối)

Lượng dịch bao quanh thai nhi có thể phản ánh tổng trạng chung và chức năng phổi-thận của thai nhi. Bụng to lên nhanh đột ngột hoặc da bụng căng bóng là một dấu hiệu báo động có thể có bất thường. Nên làm siêu âm để ước lượng chính xác lượng nước ối và phát hiện những bất thường liên quan.

Tiểu đường khi mang thai

Là một biến chứng xảy ra khoảng 1-3% ở phụ nữ mang thai. Nhau thai có thể tạo ra nội tiết tố làm thay đổi tác động của insulin trong cơ thể. Trường hợp nhẹ, tiểu đường thai kì có thể kiểm soát bằng chế độ ăn phù hợp, có khi cần chích thêm insulin. Tiểu đường thai kì có thể làm tăng khả năng bị cao huyết áp hoặc tiểu đường thật sự về sau.

Bong nhau thai

Đây là một trường hợp cấp cứu sản khoa khi mà nhau thai bong ra khỏi thành tử cung của mẹ làm cho thai nhi bị thiếu oxy và dinh dưỡng. Mẹ sẽ cảm thấy đau bụng dù là không thấy chảy máu âm đạo, đặc biệt nếu có máu đông tạo thành giữa thành tử cung và nhau thai nơi bị bong ra. Ngoài ra, cũng có thể gặp trường hợp chảy máu âm đạo rất nhiều. Biến chứng này cần thiết phải mổ lấy thai cấp cứu.

Thai chết lưu

Có thể gặp ở bất kì giai đoạn nào của thai kì khi bà mẹ để ý thấy có thay đổi trong cơ thể hoặc em bé ngừng cử động. Cần làm siêu âm để chẩn đoán chắc chắn. Đôi khi không thể tìm ra nguyên nhân hay lý do rõ ràng giải thích vì sao thai tử vong trong tử cung, điều này cũng khiến cho ba mẹ và gia đình rất khó chấp nhận.

Ứ mật trong thai kì

Khi các men tiêu hoá, mật được tích tụ trong gan của bà mẹ mang thai thẩm thấu vào máu có thể dẫn đến chứng ứ mật thai kì. Tình trạng này có thể ảnh hưởng 1-2/1000 phụ nữ mang thai và xu hướng do di truyền. Triệu chứng thường gặp là rất ngứa, nhất là ở tay và chân. Nếu ngứa không thể chịu đựng được và không thể kiểm soát bằng các loại thuốc uống và kem thoa, bà bầu có thể phải sinh em bé sớm.

Đau dây chằng mu

Dây chằng mu ở bà bầu có xu hướng dãn ra do ảnh hưởng bởi các nội tiết tố thai kì và chúng không thể giữ khung xương chậu khớp chặt với nhau. Bà bầu có thể cảm thấy không thoải mái, đau khi đi lại, đứng lên và hoạt động thông thường. Sử dụng đai lưng hoặc vật lí trị liệu sẽ giúp giảm khó chịu. Bà bầu nên nghỉ ngơi và hạn chế vận động nặng.

Nên đến gặp bác sĩ hoặc gọi cấp cứu nếu bạn gặp các tình huống sau đây:

  • Chảy máu âm đạo bất kì lúc nào trong khi mang thai hoặc đột ngột ra nước ào ạt.
  • Đột ngột đau bụng hoặc đau vùng thượng vị(ở vị trí dạ dày).
  • Thai nhi chuyển động bất thường so với hằng ngày.
  • Ngứa hoặc rát da.
  • Cơ thể bị phù nhanh, nhất là các vùng tay, mắt cá và bàn chân.
  • Tăng cân đột ngột cho thấy cơ thể bạn đang tích nước lại rất nhiều, cũng đồng nghĩa với việc bạn có thể có nguy cơ tiền sản giật.
  • Đau đầu dữ dội và nhạy cảm với ánh sáng.
  • Cảm giác bất an.
  • Cảm giác hoa mắt, chóng mặt.
  • Cảm giác mờ mắt, ruồi bay trước mắt, chớp sáng hoặc tối mắt.
  • Nhiệt độ cơ thể cao hơn 37,5 độ C.
  • Không ăn uống được, nôn ói liên tục. Tiểu ít là dấu hiệu cho thấy bạn đang mất nước.
  • Tiểu đau, gắt buốt cho thấy bạn đang bị nhiễm trùng tiểu.
  • Xét nghiệm nước tiểu mỗi lần khám thai định kì kiểm tra xem có đường hay đạm trong nước tiểu không giúp phát hiện sớm tình trạng tiền sản giật hoặc tiểu đường thai kì. Nếu có bất thường, bạn sẽ được chỉ định làm thêm một số xét nghiệm liên quan.

Tìm hiểu: Bà bầu và Huyết áp cao

biến chứng thai kỳ

Bà bầu thường ít bị huyết áp cao khi mang thai. Lưu lượng máu cần thiết bơm tới các cơ quan sẽ tăng dần tới tuần thứ 20 là khoảng 7 lít/phút. Nếu tim bơm quá nhanh, bà bầu sẽ cảm giác đánh trống ngực dồn dập chứ nhịp tim không đều đặn như trước đó. Sự kết hợp giữa lượng máu tăng lên và hoạt động bơm hiệu quả sẽ làm ảnh hưởng đến huyết áp. Tuy nhiên, trong thai kì, có nhiều yếu tố bảo vệ giúp mạch máu co giãn và đàn hồi hơn. Nên việc huyết áp tăng không xảy ra.

Progesterone là một hoóc môn của thai kì giúp hỗ trợ sự thay đổi của các mạch máu. Mặc dù đa số ảnh hưởng đều có lợi cho bà bầu nhưng vẫn không thể tránh một số tác dụng phụ như trĩ, giãn tĩnh mạch. Những tác dụng không mong muốn này có thể là sự khó chịu dai dẳng suốt thai kì đối với các bà bầu.

Vậy huyết áp cao là gì?

Tăng huyết áp là tình trạng khi áp lực máu bơm qua động mạch quá cao. Ở mỗi nhịp tim, tâm thất trái (một trong bốn buồng tim) co bóp và tống máu mang oxy đến động mạch chủ. Nếu áp lực bơm máu cao, nó sẽ ảnh hưởng đến thành động mạch. Khi đo huyết áp, số đầu tiên được ghi nhận là huyết áp tâm thu– áp lực động mạch khi tim co. Số thứ nhì là huyết áp tâm trương– áp lực động mạch khi tim nghỉ giữa 2 nhịp co. Đơn vị đo huyết áp là milimet thuỷ ngân (mmHg)– áp lực cần để làm cột thuỷ ngân chạy lên. Cách đo truyền thống là dùng loại máy đo có vòng băng quấn quanh tay và đồng hồ đo. Đây vẫn được đánh giá là cách đo chính xác nhất cho tới nay.

Huyết áp bình thường

Huyết áp bình thường sẽ dưới 140/90. Kết quả này còn phụ thuộc vào cơ thể bà bầu, hoạt động và mức độ giữ nước. Một số bà bầu bị tăng huyết áp vô căn trước khi mang thai. Họ cần được theo dõi sát sao hơn vì cả hai mẹ con đều có thể bị ảnh hưởng. Một số bà bầu khác xuất hiện tăng huyết áp trước tuần 20 của thai. Thật ra, những bà bầu này có thể đã bị tăng huyết áp trước khi mang thai mà họ không phát hiện được. Tất cả bà bầu bị tăng huyết áp trước khi mang thai đều có nguy cơ cao bị tiền sản giật.

Huyết áp bình thường: dưới 140/90

Tăng huyết áp nhẹ: 140/90 đến 149/99

Tăng huyết áp trung bình: 150/100 đến 159/109

Tăng huyết áp nặng: 160/110 hoặc cao hơn

Huyết áp cao khi mang thai có thể ảnh hưởng thế nào?

  • Làm tăng nguy cơ bong nhau thai ở nơi nhau bám vào thành tử cung. Biến chứng này có thể dẫn đến chảy máu và ảnh hưởng tới việc cung cấp máu và oxy cho thai nhi.
  • Phát triển thành tăng huyết áp thực sự sau khi sinh bé.
  • Có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch về sau.
  • Giảm lượng máu nuôi đến em bé, dẫn đến nguy cơ sinh non.

Huyết áp ở thai kì bình thường

Trong suốt thai kì, thường thì huyết áp của bà bầu ít thay đổi trong 30 tuần đầu. Từ lúc này trờ đi đến khi sinh bé, huyết áp có thể tăng nhẹ và thường không cần lo lắng. Nếu tiền sản giật xuất hiện, nó thường xảy ra rất nhanh.

Nhóm máu không tương thích Rhesus (RH)

Yếu tố Rhesus (Rh) là một kháng nguyên hay protein đặc biệt trên bề mặt của các tế bào hồng huyết cầu. Đây là một cơ chế bảo vệ giúp cơ thể phân biệt máu của chính mình. Mỗi người đều được thừa hưởng các gen từ cha mẹ của mình để xác định nhóm máu, cũng như xu hướng có kháng nguyên này hay không.

Trong máu của mỗi người đều có yếu tố Rh-dương hoặc Rh-âm. Các kháng nguyên D có mặt trong 85% dân số, nghĩa là phần lớn dân số có nhóm máu dương. Trong 15% còn lại, không có các kháng nguyên D, nghĩa là những người trong số này có nhóm máu âm. Vấn đề phát sinh khi một người mẹ có nhóm máu âm nhưng mang thai đứa con có nhóm máu dương. Bệnh Rhesus, còn gọi là bệnh tán huyết ở trẻ sơ sinh, là một biến chứng có thể xảy ra khi người mẹ sản xuất kháng thể chống lạicác tế bào hồng cầu có Rh-dương của em bé.

Bệnh Rhesus có thể được ngăn chặn khi người mẹ mang Rh-âm được tiêm một hợp chất đặc biệt gọi là kháng thể anti-D, trong vòng 72 giờ sau khi sinh em bé. Việc tiêm Anti-D cho người mẹ là đặc biệt quan trọng vì nếu không thì các em bé của người mẹ này trong tương lai có thể bị ảnh hưởng.

Điều gì xảy ra với em bé?

Nếu người mẹ có Rh-âm kết hợp với người cha cũng có Rh-âm thì khi thụ thai, em bé sẽ không có vấn đề gì. Em bé cũng sẽ có nhóm máu có Rh-âm nên không có việc sản xuất kháng thể. Tương tự, khi người mẹ có Rh-dương thụ thai một em bé với một người đàn ông có Rh-âm thì cũng không có vấn đề gì xảy ra.

Có một tin tốt là, bệnh Rhesus ở các nước phát triển là rất hiếm. Tiêu chuẩn quy định khám tiền sản cho các bà mẹ vào giai đoạn sớm của thai kỳ là kiểm tra nhóm máu. Nếu người mẹ có nhóm máu âm, điều này sẽ được ghi vào hồ sơ, và sau đó, vào khoảng tuần thứ 28 của thai kỳ, mẹ sẽ được xét nghiệm máu lại để xem đã có kháng thể hay chưa.

Các nhóm máu khác nhau

Có tất cả 4 nhóm máu: A, B, AB hoặc O

Yếu tố Rhesus được gắn thêm vào mỗi nhóm máu, ví dụ: người có nhóm máu A không có yếu tố Rh sẽ là (A-), người có nhóm máu B có yếu tố Rh thì là (B+).

Các gen được kết nối với nhau theo cặp. Những ông bố có nhóm máu dương có thể mang một gen dương và một gen âm. Vì dương chiếm ưu thế nên nhóm máu của những ông bố này được phân loại là dương. Con cái của những người này sẽ có cơ hội tương đương 50:50 là dương hoặc âm. Nhưng nếu người bố có hai gen dương thì tất cả các con của ông sẽ là Rh-dương.

Bệnh Rhesus diễn ra như thế nào?

Khi người mẹ có Rh-âm tiếp xúc với máu của đứa con có Rh-dương, người mẹ có khả năng sẽ có phản ứng miễn dịch. Trong suốt thai kỳ khỏe mạnh bình thường, cho đến khi sinh, thông thường sẽ không có tình huống máu mẹ và máu con tiếp xúc hòa lẫn với nhau. Tuy nhiên, ngoài quá trình chuyển dạ sinh con, cũng có những lúc tình huống này có thể xảy ra.

Những bà mẹ có Rh-âm bị chảy máu âm đạo trong quá trình mang thai, hoặc những người đã từng đình chỉ thai vẫn có khả năng phơi nhiễm máu Rh-dương của thai nhi. Cũng giống như cách mà một người bị dị ứng với thức ăn nào đó có phản ứng chống lại thức ăn đó, ở đây, cơ thể của người mẹ sẽ phản ứng với các kháng nguyên lạđến từ máu của đứa con.

Khi đó cơ thể người mẹ sẽ sản xuất ra các kháng thể, gọi là kháng thể anti-D, để chống lại các tế bào hồng cầu mang Rh-dương của em bé xâm nhập vào các hệ thống của cơ thể mình. Nếu trong tương lai, người mẹ mang thai em bé tiếp theo có Rh-dương thì các kháng thể anti-D có sẵn này sẽ đi qua nhau thai và tấn công các tế bào hồng cầu của em bé gây ra bệnh tán huyết.

Điều trị bệnh tán huyết ở trẻ sơ sinh

Các em bé bị bệnh này sinh ra sẽ bị thiếu máu và vàng da,nghĩa là, chúng dự trữ sắt không đầy đủ và có nồng độ bilirubin trong máu cao. Những em bé này thường phảiđược truyền máu để giữ cho lượng dự trữ sắt ở mức bình thường. Những lượng máu nhỏ được đo lường cận thận của em bé sẽ được thay thế bằng máu hiến của một người khỏe mạnh. Đây là một việc cần phải được chuẩn bị thật kỹ lưỡng. Việc này sẽ giúp loại bỏ các kháng thể anti-D, và các tế bào hồng cầu mới sẽ có thể hoạt động như bình thường.

Điều gì có thể xảy ra?

Trẻ sơ sinh bị bệnh tán huyết cũng có thể cần điều trị bằng đèn chiếu và giám sát chặt chẽ nồng độ sắt và bilirubin trong máu. Nếu em bé bị bệnh tán huyết nặng, nó có thể gây sẩy thai hoặc em bé bị chết lưu. Lượng bilirubin cao có thể vượt qua máu di chuyển đến não và gây tổn thương não.

Tiêm Anti-D là như thế nào?

mang-thai-nhom-mau-khong-tuong-thich-rherus

Các bà mẹ có Rh-âm sẽ được tiêm kháng thể anti-D trong vòng 72 giờ sau khi sinh em bé. Nó sẽ giúp ngăn cản cơ thể người mẹ sản xuất kháng thể kháng Rh-dương có khả năng gây ra các vấn đề cho những lần mang thai tiếp theo. Mặc dù vậy, với các bà mẹ có Rh-Âm thì việc xét nghiệm máu để xác định mức độ kháng thể anti-D sẽ được thực hiện định kỳ trong suốt các thai kỳ tiếp theo.

Phụ nữ có Rh-âm nên được tiêm Anti-D khi

  • Bị sẩy thai
  • Chấm dứt thai kỳ
  • Có chấn thương hoặc chảy máu
  • Trong quá trình chọc ối
  • Có chấn thương bụng
  • Sau khi có thai ngoài tử cung

Cần nhớ: Cho dù bạn có thể thuộc nhóm máu Rh-âm tính, việc thăm khám tiền sản đều đặn và đúng cách sẽ giúp phát hiện sớm các vấn đề tiềm ẩn có thể nảy sinh.

Share on Facebook0Pin on Pinterest0Share on Google+0
Leave a Reply