Sức khỏe phụ nữ và trẻ em

Phát hiện và điều trị kịp thời u nang buồng trứng khi mang thai

U nang buồng trứng là bệnh thường gặp ở các chị em trong độ tuổi sinh sản. Tình trạng bị u nang buồng trứng khi mang thai có gây hưởng gì đến thai nhi hay không, xử trí như thế nào là thắc mắc của rất nhiều mẹ bầu.

u nang buồng trứng khi mang thai

Khối u buồng trứng trong thai kỳ là những khối u thực thể của buồng trứng được phát hiện trước khi có thai nhưng tiếp tục tồn tại trong khi mang thai, lúc chuyển dạ hoặc sau sinh. Để giúp các mẹ bầu loại bỏ những lo lắng về u nang buồng trứng trong qua trình mang thai, chúng tôi tiến hành tìm kiểu kỹ lưỡng những thông tin liên quan đến vấn đề này.

Nang buồng trứng là gì?

Nang buồng trứng là một bệnh thường gặp ở phụ nữ, nó giống như một quả bóng nhỏ trong, chứa đầy không khí hay chất dịch lỏng, nằm ở một bên buồng trứng, gây áp lực lên phần bụng dưới.

u nang buồng trứng khi mang thai

U nang buống trứng thường phát triển nhiều nhất ở độ tuổi sinh sản với các triệu chứng rất mơ hồ và khó phát hiện như: nặng bụng, đau bụng hay đầy hơi; đau âm ỉ ở phần lưng dưới hay bắp đùi; đau trong lúc quan hệ; kinh nguyệt bất thường… U nang lớn có thể gây chèn ép trực tràng hoặc bàng quang, gây rối loạn tiểu tiện.

Theo nghiên cứu, có đến 90% u nang buồng trứng là u lành và 10% là ác tính. Tuy nhiên các mẹ bầu cần chú ý đến biểu hiện của bệnh vì khi bắt đầu cảm thấy những triệu chứng trên, bị đau nhiều là bệnh đã nghiêm trọng. Lúc này mẹ bầu cần đi khám và điều trị càng sớm càng tốt.

Dấu hiệu u nang buồng trứng khi mang thai

Dấu hiệu u buồng trứng ở phụ nữ mang thai cũng giống như ở người bình thường là không rõ triệu chứng ở giai đoạn đầu. Người bệnh có thể chỉ có những dấu hiệu mơ hồ như: đau lưng, hơi căng bụng, trằn bụng, thấy bụng to hơn (dấu hiệu này ở phụ nữ mang thai thường khó phát hiện hơn).

Khi có dấu hiệu gầy ốm, sụt cân, đau bụng liên tục, khó thở, bụng báng… thì đó là dấu hiệu của biến chứng chèn ép hoặc u buồng trứng bị xoắn, bị vỡ hoặc thoái hóa thành ung thư buồng trứng.

Bị u nang buồng trứng khi đang mang thai có nên mổ không? Lời khuyên dành cho mẹ bầu cần được bác sĩ theo dõi cẩn thận trước khi đưa ra quyết định có phẫu thuật hay không để tránh ảnh hưởng đến cả mẹ lẫn con. Nếu phát hiện sớm, u nang không quá nguy hiểm, bác sĩ chỉ định giữ lại thai thì sẽ được mổ cắt khối u vào tháng thứ tư của thai kỳ. Còn như có bất kỳ biến chứng nào khác thì phải mổ gấp bất kể bào thai ở tuổi nào.

Ảnh hưởng của u buồng trứng khi mang thai

Do hoàng thể phát triển không đầy đủ trong những tuần đầu của thai nghén nên có thể gây sảy thai hoặc do khối u chèn ép vào tử cung, kích thích tử cung, làm cho tử cung co bóp gây nên tình trạng thai bị đẩy ra ngoài. Hoặc thai nhi vẫn phát triển bình thường trong hai quý đầu, nhưng sang quý III, khối u to chèn ép tử cung, kích thích co bóp gây đẻ non.

Ngoài ra, khối u buồng trứng còn cản trở sự bình chỉnh ngôi thai do khối u chèn ép vào tử cung khiến ngôi thai bất thường như ngôi ngang, ngôi ngược… và gây cản trở quá trình chuyển dạ nên phải mổ lấy thai.

Các cách hạn chế u nang buồng trứng khi mang thai?

U nang buồng trứng là một dạng u đa phần vô hại, có thể gặp ở bất cứ phụ nữ ở độ tuổi nào. Tuy nhiên, các mẹ bầu cũng không nên chủ quan bỏ qua các triệu chứng của bệnh này. Có nhiều cách để hạn chế tình trạng u nang buồng trứng:

Mẹ mang thai bị u nang buồng trứng không nên lạm dụng quá nhiều thuốc. Tình trạng béo phì cùng chế độ ăn mất cần bằng cũng là nguyên nhân gây nên u nang buồng trứng ở mẹ mang thai. Mẹ bầu khi mang thai bị u nang buồn trứng nên thay đổi một số thói quen trong việc ăn uống của mình.

Người đang mắc u nang buồng trứng không nên ăn ngũ cốc tinh chế, thịt đỏ, thực phẩm nhiều đường, thức ăn nhanh, thức ăn chế biến có chứa ít chất xơ, ít chất dinh dưỡng và chất béo không lành mạnh.

Khuyến cáo, các chị em phụ nữ nữ nói chung nên đi khám phụ khoa định kì ít nhất 1 lần/năm. Đối với người có tiền sử mắc các bệnh phụ khoa thì 6 tháng/lần là việc cần thiết để giúp đề phòng biến chứng, bảo vệ sức khỏe sinh sản sau này. U nang buồng trứng càng được phát hiện sớm thì càng ít có nguy cơ ảnh hưởng đến chức năng làm mẹ của người phụ nữ.

Share on Facebook0Pin on Pinterest0Share on Google+0
Leave a Reply