Sức khỏe phụ nữ và trẻ em

Thế nào là bệnh hen phế quản, hen suyễn và cách điều trị

Hen phế quản, hen suyễn là căn bệnh thường gặp, xuất hiện ở mọi lứa tuổi, trẻ em chiếm đa số so với người lớn, tỉ lệ 2/1. Những nghiên cứu dịch tể học trong những năm gần đây cho thấy tần suất trung bình khoảng 5 %, trẻ em dưới 5 tuổi 10 %. Rất nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy tần suất này gia tăng gấp 3 – 4 lần trong những thập niên qua. Vậy các mẹ đã trang bị cho mình kiến thức về căn bệnh này chưa? Mời các mẹ theo dõi tư vấn của các bác sĩ chuyên khoa sau đây của suckhoetongquat.com nhé.

Nguyên nhân bệnh hen phế quản

1/ Hen phế quản dị ứng

Hen phế quản dị ứng không nhiễm khuẩn:

Dị ứng nguyên hô hấp: thường là bụi nhà, các loại bọ nhà như Dermatophagoides ptéronyssimus, bụi chăn đệm, các lông móng các loài gia súc như chó, mèo, chuột, thỏ v.v…; phấn hoa, cây cỏ, hay nghề nghiệp trong các xưởng dệt.

Dị ứng nguyên là thuốc aspirine, kháng viêm không steroide, pennicilline; trứng, một số phẩm nhuộm màu và chất giữ thực phẩm.

Hen phế quản dị ứng nhiễm khuẩn:

Vi khuẩn thường gặp là streptococcus pyogenes, streptococcus pneumoniae, staphylococcus aureus…

Virus: Thường gặp là virus hợp bào hô hấp, parainfluenza, cúm.

Nấm: Như nấm Cladosporium hay Alternaria, các nấm mốc.

2/ Hen phế quản không do dị ứng

Di truyền: Tiền sử gia đình, liên quan đến kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA.

Gắng sức: Khi gắng sức và nhất là khi ngưng gắng sức.

Thời tiết: Không khí lạnh.

Rối loạn nội tiết: Trong thời kỳ trưởng thành, thời kỳ trước kinh nguyệt, lúc mang thai, thời kỳ mãn kinh.

Yếu tố tâm lý: Tâm trạng lo âu, mâu thuẫn cảm xúc, chấn thương tình cảm.

Cơ chế sinh bệnh

Hen phế quản xảy ra qua 3 quá trình

Viêm phế quản

Là quá trình cơ bản trong cơ chế hen phế quản bắt đầu từ khi dị ứng nguyên lọt và cơ thể tạo ra phản ứng dị ứng thông qua vài trò của kháng thể lgE. Những tế bào gây viên phế quản bao gồm tế bào mast, bạch cầu đa nhân (ái toan, ái kiềm, trung tính), đại thực bào phế nang, bạch cầu đơn nhân, lympho bào và tiểu cầu phóng thích các chất trung gian hóa học gây viêm như histamine, sérotonine, bradykinine, thromboxane, prostaglandine, leucotriène, PAF và một số interleukine.

Co thắt phế quản

Do tác động của các chất trung gian hóa học gây viêm và vai trò của hệ thần kinh tự động gồm hệ cholinergic, hệ adrenergic và hệ không cholinergic không adrenergic.

Tăng phản ứng phế quản

Xảy ra sau khi dị ứng nguyên vào cơ thể, qua tác động của các tế bào gây viêm. Đây là một trạng thái bệnh lý không đặc hiệu cho hen phế quản.

Triệu chứng lâm sàng cơn hen phế quản điển hình

Giai đoạn khởi phát

Cơn hen phế quản thường xuất hiện đột ngột vào ban đêm, nhất là nửa đêm về sáng; thời gian xuất hiện tùy thuộc vào nhiều yếu tố như tiếp xúc dị ứng nguyên hô hấp, thức ăn, gắng sức, không khí lạnh, nhiễm virus đường hô hấp trên, v.v… Các tiền triệu như ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi, nước mắt, ho từng cơn, bồn chồn v.v… nhưng không phải lúc nào cũng có.

Giai đoạn lên cơn

Sau đó, cơn khó thở xảy ra, khó thở chậm, khó thở kỳ thở ra xuất hiện nhanh, trong cơn hen lồng ngực bệnh nhân căng ra, các cơ hô hấp phụ nổi rõ, có thể có tím ở đầu tay chân sau đó lan ra mặt và toàn thân. Nhịp thở chậm, tiếng thở rít kéo dài. Đứng xa có thể nghe tiếng rít hay sò sè của bệnh nhân. Nghe phổi có nhiều ran rít và ran ngáy. Cơn khó thở dài hay ngắn tùy theo từng bệnh nhân.

Giai đoạn lui cơn

Sau vài phút hay vài giờ, cơn hen giản dần, bệnh nhân ho khạc đàm rất khó khăn, đàm đặc quánh, có nhiều hạt nhỏ như hạt trai. Lúc này nghe phổi phát hiện được nhiều ran ẩm, một ít ran ngáy. Khạc đàm nhiều báo hiệu cơn hen đã hết.

Giai đoạn giữa các cơn

Giữa các cơn, các triệu chứng trên không còn. Lúc này khám lâm sàng bình thường. Tuy nhiên nếu làm một số trắc nghiệm như gắng sức, dùng acétycholine, thì vẫn phát hiện tình trạng tăng phản ứng phế quản.

Biến chứng

Biến chứng cấp

Hen phế quản cấp nặng: Có thể xuất phát từ hội chứng đe dọa hen phế quản cấp nặng, hội chứng nầy có thể tương ứng với tình trạng cơn hen cấp không đáp ứng với điều trị thông thường và nặng dần; hoặc xảy ra rất cấp đôi khi trong vòng vài phút. Đó là tình trạng nguy cấp có tiên lượng sinh tử trong thời gian ngắn.

Sự chẩn đoán phải được thực hiện sớm và có tính cấp cứu.

Những dấu hiệu hô hấp:

Tình trạng nguy cấp hô hấp với tím, vã mồ hôi, khó thở nhanh nông, tần số trên 30 lần/phút kèm dấu cơ kéo các cơ hô hấp.

Rối loạn tri giác: lo âu kèm vật vả hay ngược lại lơ mơ có thể đi dần vào hôn mê.

Có thể thở chậm chứng tỏ có sự suy kiệt cơ hô hấp và báo trước sự ngưng hô hấp.

Nghe phổi: Im lặng cả hai bên phổi.

Lưu lượng thở ra đỉnh dưới 150 lít/phút.

PaO2 < 60 mmHg, PaCO2 > 45 mmHg.

pH máu < 7,38.

Những dấu hiệu tim mạch:

Mạch nhanh thường trên 120 lần/phút, mạch chậm là dấu chứng rất nặng báo hiệu ngưng tuần hoàn.

Mạch nghịch lý làm mạch giảm biên độ trong kỳ thở vào, có thể xác định bằng cách đo hiệu áp tâm thu giữa kỳ thở ra và kỳ thở vào thường trên 20 mmHg.

Tâm phế cấp với dấu chứng suy tim phải.

Huyết áp có thể tăng liên quan đến sự tăng PaCO2, huyết áp hạ trong những trường hợp quá nặng.

Tràn khí màng phổi:

Do vở bóng khí phế thủng.

Nhiễm khuẩn phế quản – phổi:

Thường do Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenza, staphylococcus aureus, mycoplasma pneumonniae, legionella pneumophila.

Biến chứng mạn

Khi phế thủng đa tiểu thùy:

Thường có khó thở khi gắng sức, khi làm việc nặng, tím môi và đầu chi, lồng ngực biến dạng hình ức gà hay hình thùng, gõ vang, âm bào giảm.

Thể tích cặn và dung tích cặn chức năng tăng, có rối loạn thông khí phối hợp, PaO2 chỉ giảm ở giai đoạn sau và PaCO2 chỉ tăng ở giai đoạn sau.

Suy hô hấp mạn:

Tím và khó thở: Thở nhanh nông, thở ra môi khép chặt, dấu hiệu HOOVER.

Suy hô hập mạn nghẽn có giảm rõ các thể tích cặn, các lưu lượng trung bình và lưu lượng đỉnh, tăng độ giãn phổi, suy hô hấp mạn hạn chế có giảm thể tích phổi, giảm độ giãn phổi, tùy theo mức độ suy hô hấp mà PaO2 dưới 65 – 70 mmHg và PaCO2 trên 43mmHg.

Khó thở càng ngày càng tăng dần từ khó thở khi gắng sức, đến khó thở khi leo lên dốc hay lên cầu thang, đến khó thở khi đi nhanh trên đường phẳng, đến khó thở thì đi chậm trên đường phẳng, cuối cùng khó thở khi làm việc nhẹ như vệ sinh, cởi áo quần, về sau khó thở khi nghỉ ngơi. Tím môi, đầu chi, mặt nếu nặng tím toàn thân.

Triệu chứng suy tim phải: Trên lâm sàng và trên cận lâm sàng.

PaO2 giảm đến 70 mmHg, PaO2 tăng 50-80mmHg, SaO2 < 75 %, pH máu có thể giảm < 7,2.

Điều trị

Hen được phân loại thành bốn loại chính

Phân loại hen Các dấu hiệu và triệu chứng
Nhẹ liên tục Triệu chứng nhẹ đến hai lần trong tuần và lên đến hai đêm một tháng
Nhẹ dai dẳng Các triệu chứng nhiều hơn hai lần một tuần, nhưng không quá một lần trong một ngày
Trung bình dai dẳng Các triệu chứng ngày một lần, nhiều hơn một đêm một tuần
Nặng dai dẳng Các triệu chứng trong suốt cả ngày trên hầu hết các ngày và thường xuyên vào ban đêm

Xử trí hen phế quản theo các bậc

Bậc 1 (Hen phế quản cách khoảng): Trong hen phế quản cách khoảng, độ trầm trọng của đợt bộc phát cấp thay đổi theo từng bệnh nhân và theo thời gian. Những đợt bộc phát cấp nặng rất ít gặp.

Thuốc sử dụng trong hầu hết các bệnh nhân hen phế quản cách khoảng nhẹ là thuốc đồng vận β2 khí dung tác dụng nhanh, ngoài ra có thể sử dụng cromone hay thuốc kháng leukotriene. Thuốc kháng cholinergic, đồng vận β2 uống, hay theophylline tác dụng ngắn có thể dùng xen kẻ với thuốc đồng vận β2 khí dung, mặc dù những loại thuốc này có thời gian bắt đầu tác dụng chậm và hay là có nguy cơ có nhiều tác dụng phụ hơn. Thường thường những đợt bộc phát cấp nặng hơn hay kéo dài hơn có thể đòi hỏi sự sử dụng một đợt điều trị ngắn bằng glucocorticoide uống.

Bậc 2 (Hen phế quản dai dẳng nhẹ): Những bệnh nhân bị hen phế quản dai dẳng nhẹ cần phải được sử dụng thuốc hằng ngày để hoàn thành và duy trì sự kiểm soát hen phế quản. Trị liệu đầu tiên là thuốc kháng viêm dùng hằng ngày.

Điều trị chọn lựa một loại glucocorticoide khí dung (200 – 500μg Beclometasone dipropionate, hay Budenoside, 1000 – 250μg fluticasone chia 2 lần/ngày). Thuốc dùng xen kẽ là theophylline thải chậm, cromones, và kháng leukotriene, nhưng những loại thuốc này kém hiệu quả hơn glucocorticoide khí dung hay chỉ có hiệu quả ở một số bệnh nhân.

Điều trị lâu dài theophylline thải chậm cần phải theo dõi nồng độ theophylline trong huyết thanh với nồng độ điều trị là 5 – 15μg/ml. Thêm vào điều trị đều đặn trên, bệnh nhân hen phế quản bậc 2 có thể sử dụng một loại thuốc đồng vận β2 khí dung tác dụng nhanh, nhưng không được quá 3 – 4 lần/ngày.

Những thuốc giãn phế quản khác có thể được sử dung như thuốc kháng cholinergic, đồng vận β2 uống tác dụng nhanh, hay theophylline tác dụng ngắn, mặc dù những loại thuốc này có thời gian bắt đầu tác dụng chậm và hay là có nguy cơ có nhiều tác dụng phụ hơn.

Nếu trị liệu lâu dài được bắt đầu với theophylline thải chậm, cromone hay kháng leukotriene, mà những triệu chưng tồn tại sau 4 tuần điều trị, thì glucocorticoide khí dung phải được sử dụng. Glucocorticoide khí dung có thể được sử dung ban đầu thay vì những loại thuốc khác, hay sử dụng kèm với nhau.

Bậc 3 (Hen phế quản dai dẳng vừa): Những bệnh nhân bị hen phế quản dai dẳng vừa cần phải dùng thuốc hằng ngày để đạt được và duy trì sự kiểm soát hen phế quản.

Điều trị chọn lựa là phối hợp một glucocorticoide khí dung (200 – 1000 μg beclometasone dipropionate, 400 – 1000 μg budenoside, 250 – 500 μg fluticasone chia 2 – 3 lần/ngày) với một đồng vận β2 khí dung tác dụng dài 2 lần/ngày. M

ột phối hợp glucocorticoide khí dung với một đồng vận β2 khí dung tác dụng dài là một phối hợp tốt và tiên lợi. Mặc dầu phối hợp glucocorticoide khí dung với một đồng vận β2 khí dung tác dụng dài là có hiệu quả nhất, nhưng những bệnh nhân hen phế quản dai dẳng vừa có thể sử dụng xen kẻ những loại thuốc như theophylline thải chậm, thuốc đồng vận β2 uống tác dụng dài, thuốc kháng leukotriene.

Thêm vào trị liệu đều đặn hằng ngày, thuốc đồng vận β2 khí dung tác dụng nhanh có thể được sử dung để cắt cơn, nhưng không được quá 3 – 4 lần/ngày. Thuốc kháng cholinergic khí dung, thuốc đồng vận β2 uống tác dụng nhanh, hay theophylline tác dụng ngắn có thể thay thế cho thuốc đồng vận β2 khí dung tác dụng ngắn, mặc dù những loại thuốc này có thời gian bắt đầu tác dụng chậm và hay là có nguy cơ có nhiều tác dụng phụ hơn.

Bậc 4 (Hen phế quản dai dẳng nặng): Trong hen phế quản dai dẳng nặng, mục tiêu điều trị là đạt được kết quả tốt nhất – những triệu chứng tối thiểu, cần sử dụng thuốc đồng vận β2 khí dung tác dụng nhanh tối thiểu, PEF tốt nhất, tối thiểu cơn hen xuất hiện khoảng 1 lần / ngày, và tác dụng phụ tối thiểu. Trị liệu trước tiên là glucocorticoide khí dung liều cao hơn (> 1000 μg beclometasone dipropionate / ngày phối hợp với đồng vận β2 khí dung tác dụng dài 2 lần / ngày.

Thuốc đồng vận β2 khí dung tác dụng dài là thuốc được chọn lựa, nhưng có thể sử dụng những loai thuốc xen kẽ như theophylline thải chậm, thuốc đồng vận β2 uống tác dụng dài, thuốc kháng leukotriene. Những loại thuốc này có thể thêm vào trị liệu phối hợp giữa glucocorticoide khí dung liều cao với đồng vận β2 khí dung tác dụng dài. Thuốc đồng vận β2 khí dung tác dụng nhanh cũng được sử dụng khi cần. Nếu cần, glucocorticoide uống có thể được sư dụng với liều thấïp nhất, tốt nhất chỉ cho một lều duy nhất vào buổi sáng để giảm thiểu những tác dụng phụ hệ thống.

Glucocorticoide khí dung liều cao có thể được sử dụng, nhưng sự sử dụng này không được chứng ming rõ ràng là đã gây những tác dụng phụ hệ thống ít hơn so với sự sử dụng một liều tương đương glucocorticoide uống. Nhưng điều trị này rất tốn kem và có thể gây nên những tác dụng phụ tại chỗ như đau miệng. Không có một chứng cớ nào từ những nghiên cứu khuyến cáo nên sử dụng glucocorticoide khí dung trong hen phế quản ổn định ở người lớn.

Điều trị hỗ trợ

Liệu pháp oxy: khi cần thở oxy khoảng 2l/phút.

Kháng sinh: Chỉ dùng khi có bội nhiễm phế quản – phổi.

Điều trị cơn hen phế quản cấp nặng

Liệu pháp oxy: Phải thực hiện liền không cần chờ kết quả khí máu, cung lượng cao 6l/phút nếu không có suy hô hấp mạn, nếu có suy hô hấp mạnh cung lượng thấp 2l/phút.

Thuốc giãn phế quản:

Thuốc kích thích bêta 2: tiêm dưới da Terbutaline (Bricanyl) 1 ống 0,5 mg là biện pháp cấp cứu ban đầu ngay tại nhà bệnh nhân.

Khi nhập viện thì dùng khí dung Salbutamol, 1 ml chứa 5 mg hòa 4ml dung dịch sinh lý qua máy khí dung cho hít trong 10 – 15 phút, có thể lập lại tùy diễn tiến lâm sàng, 30 phút một lần. Có thể dùng Salbutamol tiêm tĩnh mạch liên tục bằng ống tiêm tự động, liều lượng ban đầu thường là 0,1 – 0,2 μg/kg/phút, tăng liều từng 1 mg/giờ theo diễn tiến lâm sàng.

Adrénaline:

Chỉ định chi các thuốc kích thích bêta 2 bị thất bại; liều lượng khởi đầu thường là 0,5 – 1 mg/giờ tiêm tĩnh mạch bằng ống tiêm tự động.

Aminophylline:

Có thể kết hợp, dùng bằng đường chuyền tĩnh mạch với dung dịch Glucoza 5 % liên tục với liều lượng 0,5 – 0,6 mg/kg/giờ.

Kháng sinh: Được sử dụng khi có nhiễm trùng phế quản – phổi kèm theo, có thể dùng Cephalosporines, Macrolides hay Fluoroquinolones hô hấp.

Corticosteroide:

Methylprednisolone (Solumedrol) 60 – 80mg mỗi 6 giờ.

Thở máy:

Được chỉ định trong thể ngạt cấp hay trong thể mà điều trị bằng thuốc bị thất bại gây suy kiệt cơ hô hấp.

Theo dõi bệnh nhân

Mục đích điều trị cơn hen cấp là làm thế nào để các triệu chứng giảm nhanh và cải thiện chức năng hô hấp càng nhanh càng tốt, đồng thời giảm thiểu tối đa tác dụng phụ của thuốc.

Nếu điều trị ban đầu không có kết quả, nếu PaCO2 còn thấp, thì có thể tiếp tục điều trị tại bệnh phòng; nhưng nếu PaCO2 tăng và pH bị toan hóa thì bệnh nhân phải được chuyển đến phòng hồi sức để thực hiện thông khí hỗ trợ.

Đối với hen phế quản cấp nặng là một cấp cứu nội khoa, bắt buộc phải nhập viện gấp vào khoa hồi sức hô hấp. Nếu chẩn đoán là hội chứng đe dọa hen phế quản cấp nặng hay hen phế quản cấp nặng hay hen phế quản cấp nặng ở nhà thì phải đưa ngay bệnh nhân đến khoa hồi sức bằng xe cấp cứu có trang bị.

Phòng ngừa cơn hen phế quản tái phát

Hiện nay theo GINA người ta khuyến cáo nên dùng Seretide trong điều trị duy trì kiểm soát cơn hen phế quản và người ta nhận thấy những bệnh nhân hen phế quản được điều trị bằng Seretide rất ít bị xảy ra cơn hen phế quản nặng.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Mặc dù nhiều người bị bệnh hen dựa vào thuốc để ngăn ngừa và giảm triệu chứng, Có thể làm một vài điều để duy trì sức khỏe và làm giảm bớt khả năng xảy ra cơn hen.

Tránh kích hoạt. Giảm tiếp xúc với những thứ kích hoạt các triệu chứng hen là một phần quan trọng của kiểm soát hen.

Dưới đây là một vài điều có thể giúp

Sử dụng điều hòa không khí. Điều hòa không khí làm giảm lượng phấn hoa trong không khí từ cây, cỏ và cỏ dại tìm thấy trong nhà. Điều hoà nhiệt độ cũng làm giảm độ ẩm trong nhà và có thể giảm tiếp xúc với mạt bụi. Nếu không có điều hòa không khí, cố gắng giữ kín các cửa sổ trong mùa phấn hoa.

Tẩy uế nội thất. Bụi có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng ban đêm. Giảm thiểu bằng cách thay thế các mục nhất định trong phòng ngủ. Ví dụ, bọc gối, nệm lò xo và hộp. Hủy bỏ thảm và lót sàn và có thể giặt rèm cửa và lau kính.

Duy trì độ ẩm tối ưu. Nếu sống trong một khí hậu ẩm ướt, hãy nói chuyện với bác sĩ về việc sử dụng máy chống ẩm.

Giữ sạch không khí trong nhà. Kiểm tra điều hoà và lò sưởi mỗi năm một lần. Thay đổi bộ lọc trong lò và điều hòa không khí theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Cũng nên cài đặt bộ lọc hạt nhỏ trong hệ thống thông gió. Nếu sử dụng máy tạo độ ẩm, thay nước hàng ngày.

Giảm lông thú. Nếu dị ứng với lông thú, tránh vật nuôi có lông. Vật nuôi thường xuyên tắm hoặc chải lông cũng có thể làm giảm lượng lông ở xung quanh.

Làm sạch thường xuyên. Làm sạch nhà ít nhất một lần một tuần. Nếu có khả năng khuấy động bụi, đeo khẩu trang hoặc có người khác làm các việc làm sạch.

Nếu bệnh hen trở nên tồi tệ bởi không khí lạnh, khô, khẩu trang có thể giúp đỡ.

Luôn khỏe mạnh. Chăm sóc bản thân và điều trị các điều kiện khác liên quan đến bệnh hen sẽ giúp giữ các triệu chứng dưới sự kiểm soát.

Một vài điều có thể làm bao gồm

Hãy tập thể dục thường xuyên. Có bệnh hen không có nghĩa là phải ít hoạt động hơn. Điều trị có thể ngăn chặn cơn hen và các triệu chứng trong quá trình kiểm soát hoạt động. Thường xuyên tập thể dục có thể tăng cường sức khỏe tim và phổi, giúp giảm các triệu chứng hen. Hãy nhớ rằng tập thể dục trong thời tiết lạnh có thể gây ra các triệu chứng hen. Nếu tập thể dục ở nhiệt độ lạnh, đeo khẩu trang để làm ấm không khí hít thở.

Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Thừa cân có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng hen, và nó đặt ra nguy cơ cao của các vấn đề sức khỏe khác.

Ăn trái cây và rau. Ăn nhiều trái cây và rau có thể làm tăng chức năng phổi và làm giảm các triệu chứng hen. Những thực phẩm này rất giàu chất dinh dưỡng (chất chống oxy hóa) tăng cường hệ miễn dịch.

Kiểm soát ợ nóng và bệnh trào ngược dạ dày (GERD). Có thể các acid trào ngược là nguyên nhân, ợ nóng có thể gây hại phổi và đường hô hấp và trầm trọng thêm các triệu chứng hen. Nếu ợ nóng thường xuyên hoặc không đổi, nói chuyện với bác sĩ về các lựa chọn điều trị. Có thể cần điều trị GERD trước khi các triệu chứng hen cải thiện.

Thay thế thuốc

Có một số bằng chứng cho thấy một số phương pháp điều trị thay thế có thể giúp cho các triệu chứng hen suyễn. Tuy nhiên, hãy ghi nhớ rằng những phương pháp điều trị này không phải là một thay thế cho điều trị y tế – đặc biệt là nếu có bệnh hen nặng. Nói chuyện với bác sĩ trước khi dùng bất cứ loại dược thảo bổ sung, một số có thể tương tác với các thuốc đang dùng. Trong khi một số biện pháp thay thế được sử dụng cho bệnh hen, trong nhiều trường hợp cần nghiên cứu thêm để xem cơ chế tác dụng và để đo lường mức độ phản ứng phụ có thể.

Phương pháp thay thế điều trị bệnh suyễn bao gồm

Thở kỹ thuật. Ví dụ bao gồm các kỹ thuật thở Buteyko, phương pháp Papworth, và thở Pranayama yoga. Những bài tập có thể làm giảm lượng thuốc cần để giữ cho các triệu chứng hen suyễn dưới sự kiểm soát. Các lớp học Yoga tăng thể dục và giảm stress, có thể giúp đỡ với bệnh hen.

Châm cứu. Kỹ thuật này bao gồm việc đặt kim tại các điểm trên cơ thể. An toàn và thường không đau.

Các kỹ thuật thư giãn. Các kỹ thuật như thiền, phản hồi sinh học, thôi miên và thư giãn cơ bắp có thể giúp bệnh hen bằng cách giảm căng thẳng và stress.

Thảo dược. Một vài biện pháp thảo dược đã cho thấy một số hứa hẹn trong điều trị triệu chứng hen bao gồm bơ nho khô và chiết xuất bạch quả. Pha trộn các loại thảo dược thường được sử dụng trong truyền thống y học Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Việt nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu thêm là cần thiết để xác định các chế phẩm thảo dược làm việc cho bệnh hen thế nào.

Omega – 3 fatty acid. Tìm thấy trong cá, hạt lanh và các loại thực phẩm khác, những loại dầu này có thể làm giảm viêm dẫn đến triệu chứng hen suyễn. Nó cũng có một số lợi ích sức khỏe khác.

Giải mẫn cảm. Giải mẫn cảm nhằm mục đích kích thích phản ứng tự phục hồi của cơ thể bằng cách sử dụng liều lượng rất nhỏ các chất gây ra triệu chứng. Trong trường hợp bệnh hen, các biện pháp giải mẫn cảm được làm từ những chất thường gây ra phản ứng hen, chẳng hạn như phấn hoa hoặc cỏ dại. Vẫn không đủ bằng chứng rõ ràng để xác định giải mẫn cảm giúp điều trị bệnh hen do dị ứng.

Đối phó và hỗ trợ

Hen có thể gây khó khăn và căng thẳng. Đôi khi có thể trở thành thất vọng, giận dữ hay chán nản bởi vì cần phải cắt giảm hoạt động bình thường để tránh môi trường gây cơn hen. Cũng có thể cảm thấy bị cản trở hoặc xấu hổ với các triệu chứng của bệnh và do thói quen quản lý phức tạp. Trẻ em đặc biệt có thể miễn cưỡng sử dụng ống thuốc trước mặt đồng nghiệp.

Tuy nhiên, bệnh hen không phải là một điều kiện hạn chế. Cách tốt nhất để vượt qua sự lo lắng và cảm giác bất lực là hiểu tình trạng và kiểm soát điều trị.

Dưới đây là một số gợi ý có thể giúp

Hãy phá vỡ giữa các tác vụ và tránh các hoạt động làm cho các triệu chứng nặng hơn.

Thực hiện một danh sách công việc phải làm hàng ngày. Điều này có thể giúp tránh cảm giác choáng ngợp. Tự thưởng cho mình khi hoàn thành mục tiêu đơn giản.

Nói chuyện với những người khác. Phòng chat và bảng tin trên Internet hoặc các nhóm hỗ trợ trong khu vực có thể kết với những người phải đối mặt với những thách thức tương tự và cho biết không phải một mình.

Nếu trẻ bị suyễn. Được khuyến khích, tập trung chú ý vào những việc trẻ có thể làm, không phải trên những điều người đó có thể không. Liên quan đến giáo viên, y tá trường học, huấn luyện viên, người thân trong việc giúp trẻ em quản lý bệnh hen.

Phòng chống

Làm việc cùng nhau, cùng với bác sĩ có thể thiết kế một kế hoạch các bước cho cuộc sống với tình trạng và ngăn ngừa cơn hen.

Thực hiện theo kế hoạch hành động. Với đội ngũ bác sĩ và chăm sóc sức khỏe, viết kế hoạch chi tiết cho uống thuốc và quản lý cơn hen. Sau đó, hãy chắc chắn làm theo kế hoạch. Hen là một tình trạng đang diễn ra và cần theo dõi thường xuyên và điều trị.

Xác định và tránh nguyên nhân gây nên bệnh hen. Một số chất gây dị ứng ngoài trời và chất kích thích từ phấn hoa và nấm mốc với không khí lạnh và ô nhiễm, cơn hen có thể bị kích hoạt. Tìm hiểu những gì gây ra hoặc bệnh suyễn xấu đi, và thực hiện các bước để tránh.

Theo dõi hơi thở. Có thể tìm hiểu để nhận ra dấu hiệu cảnh báo của cơn hen sắp xảy ra, chẳng hạn như ho, thở khò khè hoặc khó thở. Nhưng bởi vì chức năng phổi có thể giảm trước khi nhận thấy bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng, thường xuyên đo lường và ghi lại luồng không khí là cần thiết.

Nhận biết và điều trị sớm các cơn hen. Nếu hành động nhanh chóng, sẽ ít có khả năng có cơn hen nghiêm trọng. Cũng không cần nhiều thuốc để kiểm soát các triệu chứng. Khi đo lưu lượng đỉnh giảm và cảnh báo về cơn hen sắp xảy ra, uống thuốc theo hướng dẫn ngay lập tức và ngừng bất kỳ hoạt động có thể gây ra cơn hen. Nếu các triệu chứng không cải thiện, giúp đỡ y tế theo chỉ dẫn trong kế hoạch hành động.

Uống thuốc theo quy định. Bệnh hen dường như được cải thiện, nhưng không thay đổi bất cứ điều gì mà không nói chuyện với bác sĩ đầu tiên, do đó bác sĩ có thể kiểm tra lại thuốc đang sử dụng đúng cách và đúng liều.

Chú ý đến sử dụng thuốc ống cứu trợ nhanh. Nếu thấy dựa vào ống thuốc cứu trợ nhanh như albuterol, mà cơn hen không được kiểm soát. Đi khám bác sĩ về việc điều chỉnh điều trị.

Share on Facebook0Pin on Pinterest0Share on Google+0
Leave a Reply